Wednesday, May 26, 2010

International Banking

HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
VÀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
ThS. Đinh Thị Thanh Vân
Bộ môn Ngân hàng – Khoa TCNH
Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

Các trung tâm và thị trường tài chính quốc tế


Trong kinh tế học, thị trường được định nghĩa là địa điểm để người mua và người bán gặp nhau và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa và dịch vụ. Thị trường tài chính quốc tế cũng hoạt động trên nguyên tắc tương tự. Các giao dịch tài chính đa dạng như trao đổi ngoại tệ, các dịch vụ ngân hàng cá nhân hay dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp được thực hiện vượt qua ranh giới của một quốc gia. Việc nghiên cứu về các thị trường và trung tâm tài chính quốc tế là hết sức cần thiết trước khi đi vào tìm hiểu về hoạt động ngân hàng quốc tế.
Các thị trường tài chính nói chung được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí và yêu cầu khác nhau. Nếu như xét theo thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính, thị trường tài chính có thể được chia thành dài hạn, trung hạn (thị trường vốn) hoặc ngắn hạn (thị trường tiền tệ). Thời gian đáo hạn là ngày giao dịch tài chính được hoàn tất. Thời gian đáo hạn có thể dài, ngắn, trung hạn tùy thuộc vào công ty phát hành. Nếu xét về đặc tính lần giao dịch, các thị trường tài chính là thứ cấp hoặc sơ cấp. Thị trường sơ cấp là thị trường giao dịch lần đầu khi chính phủ hoặc các công ty phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu tiên. Các chứng khoán phát hành lần đầu sẽ tiếp tục được giao dịch trên thị trường thứ cấp giữa người mua và người bán. Các thị trường tài chính cũng có thể phân loại dựa trên địa điểm giao dịch. Thị trường giao dịch có thể tại một địa chỉ cụ thể hoặc giao dịch thông qua hệ thống máy tính, điện thoại hiện đại (OTC). Nếu phân loại theo công cụ tài chính, thị trường tài chính có thể được chia thành thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán, thị trường vàng...Việc lựa chọn cách phân loại thị trường tài chính tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và phân tích.
Các thị trường tài chính quốc tế được hình thành trên cơ sở các dịch vụ, công cụ tài chính được trao đổi vượt qua biên giới quốc gia, hoặc các công ty tài chính, các ngân hàng thiết lập chi nhánh hoạt động ở một quốc gia nước ngoài. Hầu hết các thị trường tài chính tại các quốc gia công nghiệp hóa đều mang tính chất quốc tế. Ví dụ các giao dịch liên quan đến tỷ giá hối đoái thường phục vụ cho các hợp đồng giao dịch mang tính chất quốc tế, hay thẻ tín dụng quốc tế được phát hành bởi các ngân hàng lớn cho phép khách hàng có thể rút tiền ở khắp nơi trên thế giới. Có một vài lý do tại sao hầu hết các thị trường tài chính đều hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Thứ nhất nhà đầu tư có thể giảm bớt rủi ro thông qua đa dạng hóa đầu tư trên phạm vi quốc tế. Với quy mô vốn lớn hơn trên thị trường tài chính quốc tế, người đi vay có thể vay tiền với lãi suất thấp hơn. Ngoài ra, với số lượng người giao dịch nhiều hơn, cạnh tranh sẽ ở mức cao hơn. Vốn đầu tư sẽ được dịch chuyển từ quốc gia thừa vốn sang quốc gia thiếu vốn. Chính vì vậy, thị trường tài chính quốc tế cho phép việc phân bổ vốn có hiệu quả cao với mức chi phí thấp nhất có thể.

Nói đến trung tâm tài chính quốc tế, London, New York và Tokyo là ba trung tâm tài chính quốc tế thường được nhắc đến nhiều nhất. London là vẫn thường được coi là trung tâm tài chính toàn cầu lớn nhất do hầu hết các doanh nghiệp hoạt động ở London là công ty quốc tế. Thị trường chứng khoán London, từ năm 1986, đã cho phép các công ty đầu tư có trụ sở tại New York, Tokyo được giao dịch tại đây. Tại thị trường này, các công ty có thể sử dụng ba loại tiền để giao dịch gần như 24 giờ một ngày. So với London, thị trường tài chính New York và Tokyo phục vụ cho các công ty trong nước nhiều hơn. Tuy nhiên, theo báo cáo thường niên mới nhất năm 2009 của Tập đoàn Z/Yen của Anh, 75 trung tâm tài chính toàn cầu đã được xếp hạng, sau khi kết hợp một cuộc khảo sát của các chuyên gia tài chính với các nhân tố như thuế, tỷ lệ văn phòng cho thuê, nhân lực, giao thông. Kể từ khi cuộc khảo sát được thực hiện năm 2007, đây là lần đầu tiên Anh chia sẻ vị trí số 1 với một thành phố khác là New York. Các thành phố của châu Á vẫn tiếp tục thăng hạng trong bảng xếp hạng 75 trung tâm toàn cầu, với việc Hồng Kông, Singapore và Tokyo lần lượt chiếm các vị trí 3,4,5. Trung Quốc có 3 cái tên nằm trong top 11 là Hồng Kông, Thâm Quyến và Thượng Hải.

Các đặc khu kinh tế vùng (clustering) cũng là nơi hỗ trợ sự hình thành các trung tâm tài chính lớn. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các đặc khu kinh tế vùng là lời giải thích cho sự thành công của các trung tâm tài chính. Đặc khu kinh tế được định nghĩa là các trung tâm địa lý nơi tập trung các doanh nghiệp, nhà cung cấp, hàng hóa dịch vụ, các doanh nghiệp trong các ngành có liên quan đến nhau. Cluster không đơn giản là sự hiện diện của một doanh nghiệp lớn hay nhiều doanh nghiệp trong cùng một ngành. Việc nhận diện cluster trong khu vực nhằm phát huy năng lực của các doanh nghiệp trong một ngành theo các cách thức tương tác để giành lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra giá trị hay hợp tác nguồn lực trong việc sản xuất hàng hóa. Vì vậy, chiến lược đặc khu kinh tế tập trung vào các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp chứ không phải một doanh nghiệp cụ thể. Đặc khu kinh tế vùng làm cho chi phí thông tin và giao dịch được giảm thiểu đáng kể và là cơ sở để hình thành và phát triển các trung tâm tài chính.

Các trung tâm tài chính offshore thường phục vụ các giao dịch tài chính quốc tế cho các công ty nước ngoài.Các khu offshore đầu tiên xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 theo sáng kiến của một loạt các quốc gia nhỏ, nhưng hướng tới sự phát triển trên cơ sở nền tảng của việc kinh doanh đa quốc gia. Đó là những điểm tích trữ và trung chuyển trong việc dịch chuyển vốn trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ về trung tâm tài chính offshore như Hồng Kong hay Thụy Sĩ vì các ngân hàng nước ngoài đặt trụ sở tại đây để tránh một số quy định và thuế của quốc gia mình, giảm chi phí đầu tư hay huy động. Một số trung tâm khác như Grand Cayman Islands, Guernsey và Bermuda thì lại giúp cho các doanh nghiệp đăng ký tại đây khỏi các khoản thuế và quy định khắt khe. Gần đây các trung tâm này đang chịu áp lực phải thực hiện các quy định về thuế thông thường. Lý do là các trung tâm này ngày càng thu hút một số lượng lớn các khách hàng quan trọng và các tập đoàn đa quốc gia. Các trung tâm kinh tế khác sẽ bị giảm doanh số và sẽ thiệt hại do thất thu các khoản thuế của các khách hàng đó. Gánh nặng thuế này lại đổ lên đầu các doanh nghiệp nhỏ khác, các khách hàng không quan trọng đang hoạt động trong khu vực. Ngoài ra, các trung tâm tài chính offshore còn bị kết tội là tạo điều kiện cho các hoạt động phi pháp tăng lên như rửa tiền, lậu thuế, hỗ trợ hoạt động khủng bố.

Sự phát triển của hoạt động ngân hàng quốc tế
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc hiểu thế nào là ngân hàng quốc tế. Một ngân hàng được coi là ngân hàng quốc tế, nếu nó có các chi nhánh hoạt động ở nước ngoài. Một định nghĩa khác lấy đồng tiền sử dụng trong giao dịch làm cơ sở phân loại ngân hàng quốc tế với ngân hàng nội địa. Một ngân hàng vẫn chỉ được coi là ngân hàng nội địa nếu tiền gửi cho dù của khách hàng nước ngoài gửi vào ngân hàng đó là đồng nội tệ. Định nghĩa thứ ba về ngân hàng quốc tế xuất phát từ quốc tịch của khách hàng và của ngân hàng. Nếu quốc tịch của khách hàng và ngân hàng khác nhau thì ngân hàng đó được coi là ngân hàng quốc tế. Tóm lại, yếu tố thực chất quyết định một ngân hàng là quốc tế hay không bao gồm:
1. Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng quốc tế.
2. Ngân hàng là một ngân hàng đa quốc gia.
Với yếu tố thứ nhất, lợi thế so sánh là nguyên tắc cơ bản đằng sau hoạt động thương mại quốc tế. Nếu hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở một quốc gia này có hiệu quả tương đối lớn hơn khi sản xuất ở các nơi khác trên thế giới (loại trừ các yếu tố rào cản thương mại), việc quốc gia đó xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đó sẽ mang lại lợi nhuận cho nó. Ngân hàng tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế để cung cấp các dịch vụ để các khách hàng có thể khai thác lợi thế so sánh của mình một cách có hiệu quả nhất. Với yếu tố thứ hai, một công ty đa quốc gia được định nghĩa là một công ty có nhà máy hoạt động trên phạm vi quốc tế. Tương tự, một ngân hàng đa quốc gia là một ngân hàng có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở quốc gia khác.
Việc xem xét lịch sử phát triển của hoạt động ngân hàng quốc tế cũng cho ta thấy rõ đặc thù của hoạt động ngân hàng quốc tế và lý giải sự ra đời của hoạt động này. Hoạt động ngân hàng quốc tế có nguồn gốc từ thế kỷ 13, nhưng thực sự tăng trưởng từ giữa những năm 70 của thế kỷ 20 khi các ngân hàng phương Tây lớn đã thiết lập rất nhiều chi nhánh hoạt động tại các quốc gia khác. Giai đoạn tiếp theo là sự phát triển của các sáng kiến trên thị trường tài chính, thường được nhắc đến là “chứng khoán hóa”, vào những năm 1980. Chứng khoán hóa kéo theo một loạt các tổ chức tài chính và phi tài chính tham gia vào quá trình “làm cho các khoản vay có thể dễ dàng trao đổi trên thị trường chứng khoán”. Quá trình chứng khoán hóa được phát triển cho tới những năm 1990 và được đẩy mạnh bằng việc phát triển nhanh chóng các công cụ tài chính phái sinh. Sự phát triển của các công cụ, sản phẩm tài chính mới đã dẫn đến sự phát triển hàng loạt các danh mục đầu tư quốc tế của các quỹ tương hỗ, các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm, mà các nhà đầu tư Anh, Mỹ chiếm vai trò quan trọng nhất. Quá trình này càng được thúc đẩy mạnh mẽ hơn với sự ra đời của Khối tiền tệ chung châu Âu (EMU), khuyến khích sự phát triển các hoạt động tài chính xuyên quốc gia, trong đó có việc mở các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các vụ mua bán và sáp nhập xuyên biên giới. Cuối những năm 1990s, xu hướng mở chi nhánh nước ngoài, mua bán và sáp nhập xuyên biên giới cũng diễn ra mạnh mẽ tại Nhật Bản. Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng đầu tư. Thêm vào đó, hệ thống internet đã chứng tỏ vai trò quan trọng của nó khi giúp các ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoài biên giới quốc gia mà không cần phải mở chi nhánh ở nước ngoài.
Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn cạnh tranh khốc liệt của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng bán lẻ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ cho vay, và dịch vụ thanh toán đã gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ hai phía của bảng cân đối kế toán. Cạnh tranh thu hút tiền gửi, tiền tiết kiệm từ các quỹ tương hỗ, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí. Cạnh tranh cho vay mua nhà, ô tô, tín dụng từ các công ty thẻ tín dụng. Các tập đoàn ngân hàng lớn cũng chịu sự ảnh hưởng lớn từ sự phát triển của thị trường trái phiếu, thị trường tiền tệ. Các tập đoàn kinh tế lớn, các công ty đã bắt đầu phát hành trái phiếu và đi vay trên thị trường tiền tệ thay vì đến ngân hàng vay tiền. Rất nhiều ngân hàng đã bị đẩy đến chỗ phải đa dạng hóa hoạt động của mình vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư để giúp các khách hàng lớn tiếp cận với thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Sự kết hợp giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư thường được gọi là ngân hàng toàn cầu (universal banking). Sự kết hợp này được phép ở hầu hết các quốc gia châu Âu, ko thông dụng ở Anh và bị cấm ở Mỹ vào cuối năm 1933. Khái niệm ngân hàng toàn cầu được sử dụng rộng rãi tại Đức và Thụy Sỹ. Tại Nhật Bản, khái niệm sở hữu chéo (cross-shareholding) giữa các ngân hàng Nhật bản và các tập đoàn kinh tế “keiretsu’ diễn ra hết sức rộng rãi.
Tuy nhiên, những vấn đề về cạnh tranh và quản trị công ty trong hệ thống công ty – ngân hàng vào những năm cuối 1990 đã dẫn đến việc các ngân hàng trên thế giới phải xem lại sở hữu của mình ở các công ty phi tài chính. Trong những năm 1990s, Nhật Bản và Mỹ vẫn duy trì luật pháp ngân hàng chia tách hoạt động của ngân hàng đầu tư với ngân hàng thương mại, hoạt động của ngân hàng với công ty bảo hiểm. Năm 1998, Nhật Bản đưa ra điều luật “Big Bang” nới lỏng những quy định trên và điều này cũng xảy ra đối với Mỹ vào năm 1999. Điều này góp phần làm cho mức độ cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng quốc tế lại trở nên gay gắt hơn sau đó và cho tới hiện nay. Nhìn chung, có thể thấy rõ sự phát triển của hệ thống ngân hàng quốc tế và hoạt động ngân hàng quốc tế chịu sự chi phối mạnh mẽ của sự phát triển thương mại quốc tế, quá trình tự do hóa tài chính trên thế giới, và của công nghệ thông tin. Trong bối cảnh này, các hệ thống giám sát ngân hàng tại các quốc gia lại càng phải vất vả hơn nữa trong việc kiểm soát hoạt động của các tập đoàn tài chính bảo hiểm (bancassuarances), các tập đoàn tài chính ngân hàng đa quốc gia, các thị trường vốn kết nối trên phạm vi quốc tế và các giao dịch tài chính trên hệ thống máy tính nối mạng toàn cầu.

Cơ chế giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế
Có một số lý do dẫn tới sự cần thiết quản lý hoạt động của các ngân hàng quốc tế. Thứ nhất, để bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư trên thị trường. Chất lượng của nhiều sản phẩm tài chính rất khó để quan sát, việc khuyến cáo đầy đủ về các rủi ro có thể gặp phải cho các nhà đầu tư là hết sức cần thiết. Mặc dù nhà đầu tư chịu trách nhiệm phần lớn về quyết định của mình, việc chính phủ đảm bảo nhà đầu tư có được đầy đủ thông tin của thị trường vẫn hạn chế nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư. Lý do thứ hai là hình thành một thị trường ngân hàng cạnh tranh lành mạnh. Các tập đoàn tài chính ngân hàng lớn hoạt động trên nhiều thị trường khác nhau, từ thị trường ngân hàng bán lẻ đến thị trường trái phiếu quốc tế. Thị trường toàn cầu sẽ cạnh tranh gay gắt do có sự tham gia của nhiều tập đoàn trên khắp thế giới. Yếu tố quản lý đồng bộ sẽ đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả hơn, cạnh tranh lành mạnh hơn. Lý do thứ ba cho việc quản lý hoạt động ngân hàng quốc tế là để tránh việc các các công ty thực hiện các hành vi phi pháp như rửa tiền, gian lận tài chính, trốn thuế, hay những hành vi có thể gây tổn hại tới sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu. Trong thị trường tài chính, yếu tố dễ lan truyền gây ra những hiệu ứng tiêu cực cho không chỉ một chủ thể ngân hàng mà cho cả hệ thống ngân hàng quốc gia và toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Trong các thập kỷ trước, một luồng tư tưởng mạnh mẽ đã và vẫn đang cổ vũ cho cái gọi là ngân hàng tự do (free banking). Vào thế kỷ 19, hoạt động ngân hàng tự do không chịu sự kiểm soát của chính phủ, ko cần có vốn điều lệ hay giấy phép thành lập và ngân hàng có thể tự phát hành tiền riêng của mình. Có thể kể đến các giai đoạn ngân hàng tự do ở Scotland (1716–1844), Thụy Điển (1831–1903), Thụy Sĩ (1826–1907) và Canada (1867–1914). Một số nhà nghiên cứu cho rằng hoạt động ngân hàng tự do sẽ khuyến khích sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, thúc đẩy các ngân hàng phải không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Hoạt động ngân hàng tự do tại Scotland, Thụy Điển và Canada đã được cho là khá thành công.
Trong thế giới hiện đại ngày nay, khái niệm “ngân hàng tự do” được hiểu là hoạt động hệ thống ngân hàng có mức độ cạnh tranh cao và không có sự can thiệp của luật pháp hay ngân hàng trung ương. Những người ủng hộ chủ nghĩa ngân hàng tự do cho rằng sự can thiệp của ngân hàng trung ương sẽ dẫn tới việc các ngân hàng có thể thỏa hiệp với nhau và tạo ra tính độc quyền cho hệ thống ngân hàng. Không có sự can thiệp của chính phủ, ngân hàng vẫn sẽ tạo ra được các cơ chế hoạt động để tránh các vụ đổ vỡ, hoảng loạn ngân hàng. Ví dụ cơ chế bảo hiểm tiền gửi tư nhân sẽ đảm bảo an toàn cho hoạt động gửi tiền của các khách hàng.. Mặc dù ý kiến về ngân hàng tự do khá thú vị, nhưng có vẻ nhiều quốc gia sẽ không đưa mô hình hệ thống ngân hàng này vào thử nghiệm.

Hệ thống tổ chức giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế
Như đã thảo luận ở trên, chính vì sự phát triển không ngừng của hoạt động ngân hàng quốc tế, việc thiết lập một hệ thống pháp lý quản lý hoạt động ngân hàng trên phạm vi quốc tế là hết sức cần thiết. Hai lý do chính được đưa ra ở đây là hướng tới sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu và điều hòa sự không đồng bộ trong quy định của các quốc gia về hoạt động ngân hàng. Các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý ngân hàng đều nhìn thấy rõ: nếu có vấn đề xấu với hệ thống các tổ chức và thị trường tài chính sẽ gây ảnh hưởng tới sự ổn định của cả hệ thống tài chính quốc tế hay môi trường hoạt động của tất cả các ngân hàng. Thêm vào đó, khi chi nhánh ngân hàng hoạt động tại một quốc gia nước ngoài, vấn đề đặt ra là nó sẽ phải chịu sự chi phối về luật pháp, cũng như sự kiểm soát của quốc gia nào. Các nhà lập pháp trong nước muốn các chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài phải tuân thủ các tiêu chuẩn giám sát của mình vì hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài rất khó kiểm soát nhưng lại ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các ngân hàng mẹ ở trong nước. Trong khi đó, tại quốc gia nước ngoài nơi ngân hàng lập chi nhánh, các nhà lập pháp cũng lo lắng sự thất bại của chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể ảnh hưởng tới lòng tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng trong nước. Họ sẽ muốn kiểm soát hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài này, tuy nhiên thông tin về các ngân hàng mẹ của các chi nhánh nước ngoài thì lại thiếu hụt. Chính vì những lý do này, sự phối hợp quản lý đồng bộ hoạt động ngân hàng quốc tế một cách hiệu quả là không thể phủ nhận.
Thêm vào đó, nếu tất cả các tập đoàn ngân hàng đa quốc gia đáp ứng những nguyên tắc quốc tế chung, thì môi trường cạnh tranh sẽ trở nên bình đẳng cho hoạt động ngân hàng quốc tế. Một điều cần chú ý là các quyết định của các hiệp hội, tổ chức kiểm soát hoạt động ngân hàng quốc tế cho các nước thành viên cũng được sử dụng như là khung đối chiếu so sánh cho việc quản lý ngân hàng ở các quốc gia không phải thành viên. Ví dụ, thỏa thuận tiêu chuẩn về an toàn về vốn của Ủy ban Basel đưa ra vào năm 1988 được áp dụng cho không chỉ các nước thành viên mà được áp dụng ở cả một số quốc gia không tham gia ký kết thỏa thuận này. Mặt khác, hoạt động ngân hàng quốc tế chủ yếu là phục vụ cho hoạt động ngân hàng bán buôn, hoạt động kinh doanh liên ngân hàng chứ không phải cho khách hàng cá nhân, nhỏ lẻ cho nên nguyên tắc về việc bảo vệ nhà đầu tư nhỏ bị giảm bớt tầm quan trọng. Tuy nhiên, cho dù thế nào thì hoạt động của ngân hàng quốc tế vấn có ảnh hưởng tới lòng tin của người gửi tiền và nhà đầu tư tại nước sở tại.
Dưới đây bài viết sẽ điểm qua một số tổ chức chịu trách nhiệm giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế:

Ủy ban Basel – Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS)
Sự sụp đổ của hai ngân hàng quốc tế lớn vào năm 1974 (Bankhaus Herstatt and Franklin National Bank) đã dẫn đến sự hình thành Ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng phối hợp từ nhóm G-10 nước phát triển (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ), cộng thêm với Luxembourg và Thụy Sĩ. Ủy ban bao gồm 15 thành viên chủ chốt trực thuộc BIS trụ sở đặt tại Basel, Thụy Sĩ, gặp gỡ khoảng 3 tháng 1 lần. Ngân hàng BIS được sở hữu bởi các ngân hàng trung ương ra đời đã cung cấp một địa chỉ để các thành viên gặp gỡ, trao đổi các vấn đề liên quan tới hoạt động ngân hàng quốc tế. Vào năm 1994, khoảng 13 thành viên ngân hàng trung ương từ các quốc gia mới nổi cũng tham gia vào tổ chức này. Mục tiêu chính của Ủy ban Basel là xem xét các vấn đề luật pháp liên quan tới hoạt động ngân hàng quốc tế tại các quốc gia thành viên. Ủy ban sẽ đưa ra văn bản để thống nhất quản lý hoạt động ngân hàng quốc tế tại các quốc gia thành viên một cách có hiệu quả nhất.
· Năm 1975, Bản giao ước Basel (Basel Concordat) đầu tiên được ra đời. Bản giao ước này quy định trách nhiệm của các thành viên trong việc kiểm soát, quản lý tính tính thanh khoản và khả năng trả nợ của các ngân hàng trong nước và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Bản giao ước cũng nhấn mạnh tới việc sử dụng các báo cáo hợp nhất trong kiểm soát hoạt động ngân hàng quốc tế.
· Năm 1983, Ủy ban đã thông qua Bản thỏa thuận sửa đổi Basel, sau khi có vụ scandal của ngân hàng Banco Ambrosiano. Ngân hàng này tuyên bố phá sản năm 1982 sau khi chủ tịch hội đồng quản trị của nó là Roberto Calvo treo cổ tự vẫn tại cầu Blackfriars, London. Người gửi tiền đã trở nên hoảng loạn khi nghe tin. Ngân hàng Bank of Italy đã trợ giúp một khoản tiền là 325 triệu đô la nhưng vẫn không giúp được việc ngân hàng này tuyên bố phá sản vào tháng 8 năm 1982. Bản thỏa thuận mới ra đời, đưa ra những điều khoản ràng buộc trách nhiệm chung giữa cả hai hệ thống kiểm soát của ngân hàng quốc gia sở tại có chi nhánh nước ngoài hoạt động và của quốc gia của ngân hàng mẹ.
· Năm 1988, Hiệp ước Basel 1 ra đời (Basel Accord 1). Hiệp ước Basel 1 đã đưa tầm ảnh hưởng của BIS lên một mức cao hơn, tập trung vào việc quản lý hoạt động ngân hàng quốc tế thông qua việc phối hợp chặt chẽ hơn nữa các cơ quan giám sát và kiểm tra của các hệ thống ngân hàng thành viên. Ủy ban nhấn mạnh tới việc thúc đẩy sự ổn định tài chính thế thế giới. Hiệp ước Basel 1 phân loại vốn ngân hàng ra làm 2 nhóm dựa trên mức độ quan trọng của từng khoản mục đối với hoạt động của ngân hàng. Toàn bộ tài sản của ngân hàng được quy đổi theo trọng số rủi ro tín dụng của nó. Tỷ lệ giữa vốn ngân hàng và tổng tài sản theo trọng số rủi ro được sử dụng để đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng.
· Ủy ban Basel bắt đầu nhận thức tầm quan trọng của rủi ro thị trường từ năm 1993 và ban hành Bản sửa đổi - Hiệp ước Basel 1 (Basel Amendment) vào năm 1996. Rủi ro thị trường là rủi ro có lên quan tới sự thay đổi giá cả hàng hóa trên thị trường gây tổn thất tới các khoản mục cả ở trong và ngoài bản cân đối kế toán. Các ngân hàng được yêu cầu sử dụng mô hình VaR (tính toán mức độ tổn thất tối đa trong khoảng thời gian nhất định ở mức độ tin cậy khá cao là khoảng 99%). Bản sửa đổi - Hiệp ước Basel 1 được các quốc gia đưa vào thực hiện từ năm 1998.
· Hiệp ước Basel 2 (Tiếp cận từ ba nhóm vấn đề/trụ cột – Three pillar approach). Sau khi nhận được các phê phán từ các quốc gia thành viên cho Hiệp ước Basel 1, Ủy ban Basel đã đưa ra Hiệp ước Basel 2 vào năm 2004 có độ dài 251 trang. Hiệp ước này được đưa vào áp dụng ở các nước G-10 vào cuối năm 2006 và có hiệu lực từ cuối năm 2007. Hiệp ước Basel 2 có mục tiêu thay đổi cách tiếp cận “một cỡ cho tất cả” của Basel 1. Các ngân hàng có thể tự quyết định mức vốn hợp lý của mình để đối phó với ba loại rủi ro: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Hiệp ước Basel 2 cũng đưa ra các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau cho các các doanh nghiệp, ngân hàng tại các quốc gia khác nhau. Đồng thời các ngân hàng được phép tự xây dựng các mô hình tính toán các rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường để phù hợp với các yêu cầu về luật pháp của nước sở tại. Như vậy, Hiệp ước Basel 2 tập trung giải quyết ba nhóm vấn đề lớn (pillars): (1) Tỷ lệ tài sản rủi ro trong đó có tính đến rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, và rủi ro thanh khoản. (2) Các tổ chức kiểm soát chỉ ra vai trò và chức năng của các tổ chức giám sát trong hoạt động ngân hàng, (3) Các nguyên tắc thị trường đưa ra tiêu chuẩn cho ngân hàng khi tính toán tỷ lệ an toàn về vốn, cách đánh giá rủi ro và các kỹ thuật hạn chế rủi ro. Các yêu cầu về vốn tối thiểu cho loại 1 và loại 2 vẫn giữ nguyên giống ở Basel 1 là 4% và 8%. Tuy nhiên, cách đo lường rủi ro tín dụng đã thay đổi và có tiếp cận mới đối với rủi ro hoạt động.
· Năm 2009, Ủy ban ổn định tài chính (FSB) thuộc BIS đã đưa ra đề nghị về cấu trúc của các ngân hàng lớn, quy định về vốn và tăng cường giám sát hoạt động của các định chế tài chính lớn. Ngân hàng có thể bị giới hạn về mức độ sử dụng tiền gửi của khách hàng để đầu tư trên thị trường tài chính. Thêm vào đó mức quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cơ cấu vay và huy động thế nào để bảo đảm thanh khoản, cũng như các quy định về tỷ lệ nợ xấu sẽ được nghiên cứu và xem xét lại. FSB cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ người đóng thuế, là bắt buộc ngân hàng phải có khả năng chống đỡ rủi ro cao, từ rủi ro nợ xấu cho tới thanh khoản, trước khi họ phải cầu cứu chính phủ. Từ các hướng dẫn của FSB, Basel 3 đang được xây dựng và có thể được áp dụng vào cuối năm 2012.

Thể chế tài chính quốc tế (International Financial Architecture)
Mặc dù thuật ngữ “thể chế/kiến trúc tài chính quốc tế” còn tương đối mới mẻ, nhưng có rất nhiều các tổ chức tài chính như Ủy ban Basel, BIS đã có một quá trình hoạt động hơn hai thập kỷ hướng tới sự thống nhất trong hệ thống luật pháp điều tiết hoạt động của các ngân hàng trên thế giới. Các tổ chức mang tầm quốc gia như các ngân hàng trung ương của các nước thì thậm chí đã ra đời hàng thế kỷ. Tuy nhiên, thể chế tài chính quốc tế được nói đến ở đây với tầm vóc rộng lớn hơn, tập hợp từ các tổ chức quốc tế khác nhau, cùng hoạt động vì mục tiêu giám sát hoạt động của các ngân hàng nói riêng, của các định chế tài chính quốc tế và của cả hệ thống tài chính quốc tế nói chung. Mục đích là tạo ra một cơ cấu tài chính toàn cầu, một phương tiện kiểm soát và điều phối hoạt động của các định chế trong cơ cấu đó để giảm thiểu khả năng xảy ra các khủng hoảng tài chính lớn và còn để đưa ra các phương pháp để đối phó với khủng hoảng khi nó xảy ra.

Bảng 1 sẽ liệt kê một số tổ chức quốc tế quan trọng trong việc bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính thế giới. Các tổ chức này tập trung vào việc phối hợp quốc tế quản lý hoạt động của từng lĩnh vực cụ thể như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm hay kế toán. Một ngoại lệ là Diễn đàn bình ổn tài chính (FSF) là nơi đảm bảo sự thực hiện có hiệu quả nhất các quy định, luật pháp ở trên.
Bảng 1 : Các tổ chức quốc tế có liên quan tới bình ổn tài chính
Tên tổ chức
Năm thành lập
Mục tiêu
Thành viên gặp gỡ
Thành viên
Ủy ban Basel (thuộc BIS)
1975
Giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế
Các thành viên từ Ngân hàng TW của G10
12 thành viên và các quan sát viên, NHTW châu Âu, FSG
Tổ chức quốc tế của các ủy ban chứng khoán (IOSCO)

1990
Kiểm soát hoạt động của các công ty chứng khoán
Thành viên từ các ủy ban chứng khoán (SEC)
91 nước
Hiệp hội quản lý bảo hiểm quốc tế (IAIS)

1994
Kiểm soát hoạt động của các công ty bảo hiểm
Thành viên từ các công ty bảo hiểm
80 nước
Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC)
1973
Điều hòa các nguyên tắc kế toán trên thế giới, hướng tới chuẩn mực kế toán quốc tế. Thành lập Hội đồng để thực hiện các tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế
Gặp gỡ 3-4 ngày một năm
16 đại biểu – 3 thành viên và các quan sát viên
Hội đồng tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế (IASB)

2001
Thực hiện các tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế.
Gặp gỡ hàng tháng
14 thành viên từ 9 quốc gia
Diễn đàn bình ổn tài chính (FSF)
1999
Tuyên truyền việc phát triển và thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế. Khuyến khích các tổ chức khác hành động
Các thành viên từ ECB, IMF, WB, OECD, BIS, các bộ trưởng tài chính
G7 + Úc, Hồng Kong, Hà Lan, Singapore

Một số tổ chức khác tập trung ở tầm rộng lớn hơn, bao gồm Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB). IMF được thiết lập vào năm 1944 theo Hiệp ước Bretton Wood. Với thành viên là 182 quốc gia, vấn đề quan tâm lớn nhất của IMF là cân bằng cán cân thanh toán, bình ổn tỷ giá hối đoái và ổn định kinh tế vĩ mô cho các nền kinh tế trên thế giới. WB cũng được thành lập vào năm 1944, là tổ chức hỗ trợ phát triển, sắp xếp các nguồn tài trợ từ bên ngoài cho các quốc gia đang phát triển và mới nổi. Nguồn tài trợ từ bên ngoài có thể dưới dạng các dự án tài trợ, các khoản vay, các khoản tài trợ với các điều kiện ràng buộc nhất định. Cả hai tổ chức này có bộ phận chính sách tài chính liên quan tới việc ổn định tài chính chủ yếu ở tầm vĩ mô.
Chương trình đánh giá hệ thống tài chính (FSAP) là chương trình liên kết giữa IMF và WB được ra đời vào năm 1999, thể hiện vai trò ngày càng to lớn hơn của hai tổ chức này đối với sự ổn định của hệ thống tài chính quốc tế. Vào tháng 4 năm 2003, hệ thống tài chính của khoảng 95 quốc gia (cả phát triển và mới nổi) đã và đang được đánh giá. Việc đánh giá này bao gồm các đánh giá về kinh tế vĩ mô, các điểm yếu của hệ thống tài chính, hệ thống biện pháp đối phó với khủng hoảng, các quy định về đo lường hiệu quả, giám sát, điều tiết hoạt động của hệ thống tài chính. Nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bản (Core Principles Liaison Group) được thành lập như một sợi dây liên kết trực tiếp giữa Ủy ban Basel- BIS và WB/IMF để đánh giá các mảng khác nhau của lĩnh vực tài chính và để đưa ra các tiêu chuẩn an toàn mới về vốn.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề sẽ phát sinh cần phải giải quyết trong việc quản lý hệ thống ngân hàng quốc tế. Ví dụ như việc điều hòa sự khác biệt trong giám sát của các quốc gia đối với hệ thống ngân hàng, việc thống nhất các tiêu chuẩn quy định trong hoạt động của ngân hàng, việc minh bạch hệ thống thông tin của hệ thống tài chính, ngân hàng, hay sự tham gia của các thị trường mới nổi, đang phát triển vào việc giám sát hệ thống tài chính quốc tế. Việc phát triển và nâng cao vai trò của hệ thống “thể chế tài chính quốc tế” là cơ sở vững chắc cho việc giám sát đồng bộ hoạt động ngân hàng quốc tế nói riêng và bình ổn hệ thống tài chính trên thế giới nói chung.

References upon requests.


2 comments:

  1. Đây là trang nhạc của các webmaster vn nhacf.com - được viết với mục đích chỉ để nghe nhạc.

    Trang nhạc trình bày đơn giản nhanh gọn chuyên nghiệp, nghe nhạc nhanh, tìm kiếm bhát dễ dàng.

    Mới chỉ có ít người biết đến. nhưng nhacf được dân lập trình đánh giá rất cao về chất lượng và cách thể hiện.

    Để làm trang web giống như nhacf.com, bạn có thể dùng blogspot để tạo & copy sourcecode của nó ở đây

    Phù hợp với ~ người có sở thích đơn giản nhanh gọn và muốn khám phá..

    ReplyDelete